Thế kỷ thứ 19 đánh dấu sự gần như tuyệt chủng của một dân tộc tồn tại rất lâu đời ở Việt Nam, dân tộc Chàm (còn gọi là Chiêm hay Chămpa), đã bị đánh bại rồi suy vong. Nền văn minh Chàm đã bị phá hủy. Vương Quốc Chămpa ngày nay chỉ còn lại những vết tích đổ vỡ, hoang vắng và tàn tạ. Vương Quốc một thời lừng lẫy trong sử sách giờ chẳng còn lưu lại chút gì của những chiến công quật cường oanh liệt.
Vua Chàm đầu tiên trong lịch sử, Khu Liên, đã khai lập Vương Quốc Chămpa vào khoảng năm 192 Tây Lịch. Lúc đầu có tên là Vương Quốc Lâm Ấp, phía bắc giáp với Nhật Nam của Trung Quốc bằng dãy núi Hoành Sơn (nay thuộc tỉnh Quảng Bình); phía tây và nam giáp với Vương Quốc Phù Nam với dãy núi nằm theo hướng đông tây chạy dài tới đèo Hải Vân (nay thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế). Nền văn hóa Chàm còn sót lại dấu tích của đền Bhadrecvara xây năm 629 ở Mỹ Sơn. Còn ngôi đền nổi tiếng Pô Nagar tại thành phố Nha Trang hiện nay đã được xây dựng từ năm 857 Tây Lịch1.
Tháp Chàm Pô Nagar tại Nha Trang.
Tổ tiên của người Chàm từ các đảo Mã Lai và Nam Dương di cư sang từ nhiều thế kỷ trước Tây Lịch. Khi xâm chiếm, họ đã dồn thổ dân tại đó lên các núi thuộc dãy Trường Sơn. Khi lập quốc vào năm 192, Chàm theo Ấn Độ Giáo, cho nên tổ chức xã hội và phong tục đều ảnh hưởng từ Ấn Độ. Sau này, Chàm du nhập thêm Phật Giáo và Hồi Giáo. Người Chàm dùng chữ Phạn làm ngôn ngữ chính. Họ rất gan dạ và giỏi đi biển2.
Dân tộc Chàm đã thất bại trong những cuộc chiến tranh với dân tộc Việt hùng mạnh ở phía Bắc, và dần dần bị xóa xổ. Cuộc chiến đầu tiên giữa nước Việt và Chiêm Thành xảy ra vào năm 982. Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) thân chinh dẫn quân đi đánh Chiêm Thành. Vua Lê chiếm kinh đô, giết vua Chiêm, phá hủy thành trì, tông miếu, bắt về nhiều cung nữ và vô số vàng bạc châu báu.
Năm 1020, Vua Lý Thái Tổ sai Khai Thiên Vương Thái Tử Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân đánh Chiêm Thành ở Trại Bố Chính (Quảng Bình ngày nay) chém chết tướng Chiêm là Bố Linh.
Vào năm 1044, vua Thái Tông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, phá tan 3 vạn quân địch. Tướng Chiêm là Quách Gia Di thấy thua liền chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu tại trận rồi đem dâng cho vua Thái Tông. Vua Thái Tông tiếp tục đánh xuống chiếm thành Phật Thệ, bắt hoàng hậu, phi tần của vua Sạ Đẩu và các cung nữ mang về nước làm chiến lợi phẩm. Trong đoàn cung nữ Chàm có một cung phi tên là Mỵ Ê đã giữ tiết không chịu sang chầu ở thuyền của vua nước Việt nên đã nhảy xuống sông tự vẫn.
Năm 1069, vua Thánh Tông cùng với Lý Thường Kiệt tiên phong đánh nước Chiêm. Quân Chiêm thua vỡ trận, chết nhiều không kể xiết. Vua Chiêm là Chế Củ phải bỏ thành chạy trốn về phía Nam, bị Lý Thường Kiệt đuổi theo bắt sống tại biên giới với Chân Lạp (Phan Thiết Phan Rang ngày nay). Vua Thánh Tông ra lệnh đốt hết tất cả các nhà trong thành rồi giải vua Chế Củ và bộ hạ về nước Việt. Vua Chiêm phải dâng cho nước Đại Việt ba châu Bố Chính, Địa Lý, và Ma Linh (thuộc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để đổi lấy tự do của Chế Củ.
Thời Lý hồi đó, nước Việt và Chiêm Thành đều là chư hầu của nhà Tống, Trung Quốc. Do Việt và Chiêm có mối thâm thù nhau, cho nên khi chầu cống vua Tống, đều tránh mặt nhau. Nếu không xin được chầu khác ngày thì sứ thần nước Việt và nước Chiêm kẻ đứng phía đông người chầu phía tây. Kể cả khi ăn yến tiệc cũng mỗi người một nơi.
Sau thời Lý thì đến thời nhà Trần. Trần Thái Tông lên làm vua nước Việt. Vào năm 1252, vua thân chinh dẫn quân đánh bại Chiêm Thành, cướp vương phi Bốgiala, thê thiếp cùng nhiều quân thần mang về nước3.
Tới năm 1301, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhường ngôi vua cho Trần Anh Tông, rồi sang nước Chiêm chơi, hứa gả con gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân, dù lúc đó Chế Mân đã có hoàng hậu là người Java (Indonesia). Năm 1305, Chế Mân dâng sính lễ và dâng hai châu Ô và Lý (thuộc tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam ngày nay) cho vua Trần, đến tháng 6 năm 1306 thì rước Huyền Trân công chúa về nước Chiêm. Cưới chưa được một năm, tháng 5 năm 1307, vua Chế Mân mất. Vua Trần Anh Tông sợ Huyền Trân công chúa bị thiêu cùng với vua Chiêm nên sai Thượng thư Trần Khắc Chung sang đón công chúa về. Trần Khắc Chung lừa người Chiêm để tổ chức làm lễ chiêu hồn tại bờ biển rồi cướp công chúa lên thuyền chạy về nước Việt. Trần Khắc Chung bị cho là đã tư thông với Huyền Trân công chúa, nên kéo dài cuộc hành trình trên biển, đến hơn một năm sau mới về đến nước Việt 4. Trần Khắc Chung sau khi chết đã bị gia nô của Thiệu Võ Vương đào mộ lên rồi băm nát xác ra5.
Lý do vua Trần Anh Tông lo sợ công chúa Huyền Trân bị thiêu nên sai Trần Khắc Chung sang cướp công chúa về nước có lẽ không chính xác. Bởi ngay cả Trần Khắc Chân đi gấp cũng không thể kịp thời gian trước lễ hỏa thiêu vua Chiêm. Hơn nữa, những nhà viết sử sau này có nêu lý do rằng Huyền Trân công chúa là ngoại tộc, không đủ tư cách để được thiêu cùng với vua Chiêm, khi mà Chế Mân đã có Hoàng Hậu chính thất người Java trước khi cưới Huyền Trân công chúa. Thực ra Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân chỉ là cuộc hôn nhân chính trị. Khi vua nước Việt đã chiếm được hai châu Ô Lý là đã hoàn thành mục đích rồi, nên khi Chế Mân chết thì phải tìm cách đưa công chúa về nước mà thôi. Chế Mân chết, con là Chế Chí lên làm vua. Năm 1311, vua Trần Anh Tông cùng với Trần Khánh Dư và Phạm Ngũ Lão dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, bắt Chế Chí đem về Thăng Long nước Việt6.
Năm 1361, Chế Bồng Nga lên ngôi vua Chàm, mở ra một thời kỳ hùng mạnh của Vương Quốc Chămpa. Từ đây, đánh dấu những thắng lợi liên tiếp của Chế Bồng Nga đối với nước Việt. Năm 1361, Chế Bồng Nga mang quân sang nước Đại Việt chiếm cảng Đả Lý (thuộc huyện Bố Trạch, Quảng Bình ngày nay). Quân Việt bỏ chạy. Quân Chàm tàn phá thành phố, giết hại dân rồi mang của cải xuống thuyền về nước. Năm 1368, Chế Bồng Nga đánh tan tác quân Việt tại Chiêm Động (Quảng Nam hiện nay), bắt Trần Thế Hưng làm tù binh7.
Năm 1369, vua Trần Dụ Tông mất, Dương Nhật Lễ lên kế vị được hơn một năm. Sau đó bị các tôn thất nhà Trần đem quân tiếm ngôi vua, lập con của vua Minh Tông lên làm vua, hiệu là Nghệ Tông. Mẹ Nhật Lễ trốn sang nước Chiêm, cầu cứu Chế Bồng Nga. Năm 1371, Chế Bồng Nga dẫn quân Chiêm sang đánh nước Việt, chiếm thành Thăng Long. Vua Nghệ Tông phải chạy trốn. Quân Chiêm đốt phá thành, cướp châu báu rồi bắt phụ nữ mang về nước Chiêm8.
Vua Duệ Tông lên ngôi vào năm 1373, bắt đầu cuộc chiến tranh đánh Chiêm Thành. Năm 1377, vua Duệ Tông thân chinh dẫn quân tới Thị Nại. Chế Bồng Nga cho người tới gặp vua trá hàng. Tướng nước Việt là Đỗ Lễ can vua xin để quân đi thám thính trước. Vua Duệ Tông chê Đỗ Lễ là đồ đàn bà, sai người mang áo đàn bà cho Đỗ Lễ mặc rồi kéo quân vào thành. Lọt vào ổ phục kích của Chế Bồng Nga, quân Việt bị đánh tan tác, vua Duệ Tông bị giết tại chỗ. Trên đà chiến thắng, Chế Bồng Nga kéo quân ra Thăng Long chiếm thành, cướp bóc, sau đó rút quân về nước Chiêm.
Năm 1383, Chế Bồng Nga dẫn quân theo đường núi đánh Thăng Long. Thượng hoàng Nghệ Tông sai Lê Mật Ôn ra đánh quân Chiêm, Mật Ôn bị bắt sống tại chỗ. Nghệ Tông phải bỏ thành chạy trốn. Chế Bồng Nga chiếm đóng đến hết năm thì thu quân về Chiêm Thành.
Tới năm 1386, Chế Bồng Nga cùng với tướng Lã Khải đã đánh bại Lê Quý Ly và Trần Khắc Chân khiến cả hai đều phải bỏ chạy. Trong lúc đó thì một nhà sư tên là Phạm Sư Ôn cùng bộ hạ đã chiếm kinh đô khiến vua Đại Việt phải bỏ trốn. Người em út của vua Đại Việt là Nguyễn Diệu bèn đem tất cả thân quyến sang hàng Chế Bồng Nga với hy vọng sẽ được cai trị Đại Việt sau khi Chế Bồng Nga chiến thắng. Trong khi các chiến thuyền của Chế Bồng Nga và Nguyễn Diệu đang tiến đánh quân Đại Việt thì một tên lính bỏ chạy sang báo cho Trần Khắc Chân chiếc thuyền của Chế Bồng Nga. Trần Khắc Chân đã ra lệnh tập trung toàn bộ súng hỏa mai bắn vào thuyền của Chế Bồng Nga. Chế Bồng Nga bị trúng đạn chết. Nguyễn Diệu nhanh tay cắt thủ cấp của Chế Bồng Nga rồi lái thuyền về phía quân đại Việt, định đem thủ cấp lên dâng vua nhưng đã bị một tướng của quân Đại Việt chém đầu. Sau khi Chế Bồng Nga chết, Lã Khải rút quân về nước và xưng làm vua nước Chămpa9.
Năm 1402, quốc vương Chàm Jaya Sinhavarman Đệ Ngũ (Ba Đích Lại) thua trận trước Hồ Quý Ly nên phải dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy cho nước Đại Ngu của vua Hồ Quý Ly. Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông dẫn quân vào thành Vijaya bắt quốc vương Bàn La Trà Toàn rồi chia nhỏ nước Chămpa ra làm ba nước nhỏ là nước Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan. Dân Chàm phải trốn chạy khỏi ách cai trị của dân Việt, chạy lên núi, chạy sang Kampuchea, và chạy sang cả đảo Sumatra.
Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành, chiếm đất rồi lập ra phủ Phú Yên, và chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuyên Hòa. Năm 1653, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần chiếm miền Kauthara của Chămpa (tỉnh Khánh Hòa hiện nay) rồi đổi tên thành dinh Thái Khang. Đến năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu đánh nhau với Chămpa, bắt vua Bá Tranh, chiếm đất Bình Thuận, Phan Rí và Phan Rang. Cả hoàng tộc Chàm phải chạy trốn sang lãnh thổ Khơme (Khmer). Năm 1822, dưới sự cai trị hà khắc của vua Minh Mạng, vua Chàm là Po Chơn Chan phải bỏ ngai vàng chạy sang Kampuchea. Tới năm 1833, lợi dụng Lê Văn Khôi đứng lên khởi nghĩa chống lại vua Minh Mạng, dân Chàm đã chiến đấu lấy lại các vùng Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết, nhưng sau đó cuộc khởi nghĩa bị thất bại hoàn toàn. Vua Minh Mạng đã thẳng tay tàn sát dân Chàm, chấm dứt sự tồn tại của Vương Quốc Chămpa.
Bằng gươm đao, và bằng cả mỹ nhân kế, từng bước từng bước một, nước Việt đã hoàn toàn thôn tính Vương Quốc Chămpa. Ngày nay, hậu duệ của người Chàm có ca sĩ nổi tiếng Chế Linh. Ai thích nhạc vàng thì không thể không biết đến ca sĩ Chế Linh, người được cho là ca sĩ khai phá dòng nhạc Bolero thành công nhất. Để thương tiếc cho Vương Quốc Chămpa đã bị xóa sổ, Chế Linh chỉ còn biết gửi lòng uất hận bằng lời ca tiếng hát qua bài Hận Đồ Bàn. Thành Đồ Bàn, tức là Vijaya, bị Đại Việt chiếm vào năm 1471, đánh dấu sự bắt đầu suy tàn của Vương Quốc Chămpa.
Nguồn:
[1]: Dân Tộc Chàm Lược Sử, Dohamide Dorohiem, Nhà in Lê Văn Phước, 1965.
[2], [3], [4]: Việt Sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777, Phan Khoang, Nhà Sách Khai Trí, 1967.
[5]: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1998.
[6]: Việt Sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777, Phan Khoang, Nhà Sách Khai Trí, 1967.
[7]: Dân Tộc Chàm Lược Sử, Dohamide Dorohiem, Nhà in Lê Văn Phước, 1965.
[8]: Việt Sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777, Phan Khoang, Nhà Sách Khai Trí, 1967.
[9]: Dân Tộc Chàm Lược Sử, Dohamide Dorohiem, Nhà in Lê Văn Phước, 1965.