Bốn giờ ở Mỹ Lai

Thông thường trong một cuộc chiến tranh, có sự phân biệt rõ ràng ai là dân thường, ai là binh lính. Nhưng khi du kích không mặc đồng phục hoặc mang phù hiệu, sau khi bỏ vũ khí ra thì không thể phân biệt với dân thường. Đối với lính Mỹ, quân du kích đang núp sau rào chắn của dân thường. Đối với du kích, đó là lính của dân, từ dân mà ra. Dân làng yêu thương họ, bảo vệ che chở cho họ, nuôi ăn du kích. Thật là khó cho một thanh niên Mỹ để phân biệt giữa du kích và dân thường. Làm sao phân biệt được người tốt với kẻ xấu? Tất cả đều trông giống nhau.

Posted by Thanh Nguyen on Oct 28, 2022

Nghe bài viết:

Một ngày rất bình thường, bình thường như mọi ngày trong tuần, cậu bé 10 tuổi, con của Varnado Simpson đang chơi trước sân nhà tại phía bắc thành phố Jackson, tiểu bang Mississippi thì có mấy thiếu niên đi ngang qua đường và bắt đầu cãi lộn. Rồi một tiếng súng chói tai vang lên, viên đạn vô tình đi thẳng vào đầu của cậu bé vô tội này. Khi đó Varnado Simpson đang ở trong nhà, nghe thấy tiếng súng chạy ra, thấy con trai mình đã ngã gục. Ông đỡ con lên, máu chảy ướt áo ông, đứa con thân yêu của ông đã chết ngay trên tay ông.

Ông cúi xuống nhìn mặt con, thật kinh hoàng vì ông không thấy khuôn mặt thân yêu quen thuộc, mà đó là các khuôn mặt của những phụ nữ, những trẻ em mà chính tay ông đã giết chết trong trận Mỹ Lai vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi, miền Nam Việt Nam. Ngày đó ở Mỹ Lai, Varnado đã giết khoảng 25 người, đàn ông, phụ nữ, trẻ em trong trận càn. Phần khó nhất là giết một người đầu tiên, khi phần khó nhất đã vượt qua thì việc giết người tiếp thật không có gì khó khăn cả.

Sau khi trở về Mỹ, Varnado làm ngân hàng cho tới năm 1969 thì vụ thảm sát Mỹ Lai gây rúng động công chúng Mỹ, nối tiếp bằng phiên tòa xử Trung úy Calley, đã làm Varnado mất việc. Người dân đứng trước cửa ngân hàng réo gọi Varnado là “kẻ giết trẻ em”, khách hàng rút tiền chuyển sang ngân hàng khác vì Varnado làm việc tại đó. Varnado bị mắc Hậu chấn Tâm lý (Post-traumatic stress disorder – PTSD), một dạng bệnh tâm thần sau cú sốc Mỹ Lai. Varnado luôn ngồi trước bức tường vì rất sợ ai đó tấn công từ phía sau, các cửa sổ luôn đóng kín, rèm cửa không bao giờ được mở. Căng thẳng, hút thuốc liên tục, tay run rẩy mỗi khi chuyển động, gặp ác mộng hàng đêm đến mức không dám đi ngủ, những khuôn mặt người mà Varnado đã giết xuất hiện hàng đêm sống động như đang xảy ra. Varnado thực sự nghĩ rằng những người đó chưa chết hẳn mà đang trở lại giết mình. Varnado đã ba lần tự tử nhưng không thành, vẫn phải sống với nỗi đau dai dẳng này. Cái chết của đứa con trai yêu quý có lẽ chính là sự trừng phạt Varnado vì tội giết người. (Sau này, số phận của Varnado đã được định đoạt sau lần tự tử lần thứ tư cũng là lần cuối cùng bằng một phát súng lục vào đầu).

Sơ đồ trận Mỹ Lai.1

Luật nhân quả đã được áp dụng cho rất nhiều lính Mỹ nhúng chàm. Ba tháng sau vụ Mỹ Lai, Trung tá Frank A. Baker, sĩ quan chỉ huy Lực lượng Đặc nhiệm Baker, người tổ chức cuộc tấn công bộ binh vào Mỹ Lai vào ngày 16 tháng 3 năm 1968, cũng là người đã báo cáo che đậy vụ thảm sát này, đã chết trong một vụ tai nạn trực thăng. Robert T’Souvas, người đã thừa nhận giết chết năm người ở Mỹ Lai, sống cuộc đời vô gia cư nghèo khó trước khi bị người vợ không chính thức bắn chết tại Pittsburgh vào tháng 9 năm 1988. Không nhà cửa, hai vợ chồng T’Souvas phải sống trong một chiếc xe tải, phải tắm rửa miễn phí tại các trạm đỗ xe, phải bán máu và bắt cá trên sông để sinh sống. Một tối, hai người đã uống rượu, cãi nhau rồi kết thúc bằng phát đạn do vợ T’Souvas bắn thẳng vào đầu chồng mình. Cái chết bi thảm của T’Souvas đã giải thoát thể xác của anh ta khỏi cuộc sống địa ngục hiện tại, nhưng linh hồn của anh ta đã chết hai mươi năm trước đó, tại vụ thảm sát Mỹ Lai.

Những chàng trai trẻ như Varnado, Robert T’Souvas, mới 18, 20 tuổi đầu, vừa rời mái trường thì phải sang chiến đấu tại Việt Nam, chưa hề có một kinh nghiệm trận mạc nào. Mục tiêu của lính Mỹ là tiêu diệt càng nhiều Việt Cộng càng tốt đúng theo chiến thuật “Tìm và diệt”. Nhưng tìm Việt Cộng bằng cách nào khi cuộc chiến tranh du kích của Việt Nam khác hẳn với các cuộc chiến khác. Thông thường trong một cuộc chiến tranh, có sự phân biệt rõ ràng ai là dân thường, ai là binh lính. Nhưng khi du kích không mặc đồng phục hoặc mang phù hiệu, sau khi bỏ vũ khí ra thì không thể phân biệt với dân thường. Đối với lính Mỹ, quân du kích đang núp sau rào chắn của dân thường. Đối với du kích, đó là lính của dân, từ dân mà ra. Dân làng yêu thương họ, bảo vệ che chở cho họ, nuôi ăn du kích. Thật là khó cho một thanh niên Mỹ để phân biệt giữa du kích và dân thường. Làm sao phân biệt được người tốt với kẻ xấu? Tất cả đều trông giống nhau. Vì sợ hãi, những chàng trai trẻ như Varnado chỉ còn biết bắn vào bất cứ những gì di chuyển, để rồi những bà mẹ Mỹ đã phải tuyệt vọng gào lên “Tôi mang cho họ một cậu bé ngoan, và họ đã biến nó thành kẻ sát nhân”.

Nhưng không phải tất cả lính Mỹ đều như Varnado hay T’Souvas. Hugh Clowers Thompson Jr, 25 tuổi, phi công trinh sát lái phi cơ trực thăng H-23, chỉ nổ súng khi mục tiêu đã xác định rõ ràng, tức là nhìn thấy vũ khí của đối phương mới khai hỏa. Cùng bay với Thompson trong trận càn Mỹ Lai là Trưởng phi hành đoàn Glenn Andreotta và Xạ thủ Lawrence Colburn. Khi Thompson bay qua cánh đồng lúa, họ đã sửng sốt khi chứng kiến một Đại úy bắn chết một phụ nữ khoảng 20 tuổi bị thương đang cầu cứu giúp đỡ. Ngay khi tới đầu làng thì họ gặp một nhóm lính đang truy đuổi nhiều dân thường đang trú ẩn trong hầm tự chế. Thompson đã ra lệnh cho Colburn chĩa súng vào lính Mỹ và nổ súng nếu lính Mỹ giết dân thường. Sau đó anh ta đã yêu cầu phi cơ trực thăng khác, hạ cánh, và đưa tất cả hai đàn ông, hai phụ nữ và khoảng năm hoặc sáu trẻ em di tản đến nơi an toàn. Trên đường trở về tiếp nhiên liệu thì Andreotta chợt nhìn thấy thứ gì đó chuyển động trong một con mương đầy xác người. Thompson hạ cánh, cả ba nhảy xuống, Thompson và Colburn đứng trên bờ canh, còn Andreotta nhảy xuống mương cứu đứa trẻ. Đó là một bé trai khoảng ba tuổi, người dính đầy máu, nhưng không thấy vết tổn thương nào trên thân thể. Họ nhanh chóng chuyển đứa trẻ đến bệnh viện cấp cứu. Khi bay trở lại Mỹ Lai, Thompson đã phản ánh với chỉ huy và cuộc tàn sát được lệnh ngừng lại. Sau khi về doanh trại, Thompson đã báo cáo việc thảm sát dân thường lên cấp trên nhưng vụ việc sau đó đã bị che đậy.

Thảm sát tại Mỹ Lai.2

Vụ thảm sát Mỹ Lai được phanh phui cho công chúng Mỹ một cách rất tình cờ. Ronald Ridenhour, một lính Mỹ 22 tuổi cũng thuộc Lữ đoàn 11 Bộ binh Hoa Kỳ, gặp lại các bạn cũ trong quá trình huấn luyện trước đây, đó là Gruver, Doherty và Terry thuộc Đại đội Charlie vào ngày 24 tháng 3 năm 1969. Qua lời kể của Gruver, anh ta và đồng đội đã sát hại khoảng ba, bốn trăm dân thường tại Mỹ Lai bao gồm cả phụ nữ và trẻ em. Sau khi tìm hiểu thêm thông tin về vụ thảm sát này, ngày 2 tháng 4 năm 1969, Ridenhour đã viết thư cho rất nhiều nhân vật quan trọng của Hoa Kỳ bao gồm Thượng nghị sĩ Mo Udall, Tổng thống Nixon, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, Edward Kennedy, Barry Goldwater, Eugene McCathy, và William Fulbright, yêu cầu ngay lập tức phải điều tra về vụ Mỹ Lai. Ngày 12 tháng 4, Đại tá Howard Whitaker, Phó chỉ huy Lực lượng Quân sự Hoa Kỳ tại Long Bình nhận được lệnh phải điều tra theo cáo buộc của Ridenhour. Ngay sáng hôm sau, Whitaker bay tới Chu Lai kiểm tra tất cả hồ sơ lưu trữ nhưng không thấy bất cứ một tài liệu nào nói về vụ thảm sát này, và đã đề nghị Washington thẩm tra lính Đại đội Charlie theo danh sách của Ridenhour. Đại tá William V. Wilson nhận trách nhiệm tiến hành điều tra. Ngày 17 tháng 6, sau rất nhiều cuộc thẩm vấn, thu thập tài liệu, Wilson đã viết bản báo cáo điều tra dài hơn 1.000 trang, kết luận đã có cuộc thảm sát giết chết hơn một trăm dân thường ở Mỹ Lai do lính thuộc Đại đội Charlie tiến hành, tiêu biểu là Trung úy Calley. Từ lúc này, vụ thảm sát ở Mỹ Lai đã được công chúng biết đến qua báo chí Mỹ. Ngày càng có nhiều thông tin rò rỉ chứng minh thật sự có tồn tại vụ thảm sát này. Sau nhiều cuộc điều trần tại Nhà Trắng, vào ngày 26 tháng 11, Đại tướng Westmoreland đã chỉ định Trung tướng William R. Peers tiến hành điều tra một cách toàn diện đầy đủ về cuộc thảm sát Mỹ Lai. Peers đã trở lại Mỹ Lai, đánh dấu từng vị trí giết người, thẩm vấn rất nhiều lính Mỹ và sĩ quan, thẩm vấn cả các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, và tìm hiểu từng tài liệu liên quan. Ngày 16 tháng 3 năm 1970, Peers đã hoàn thành báo cáo điều tra dài hơn 20.000 trang bao gồm hàng trăm bức ảnh Mỹ Lai, cáo buộc 224 lính Mỹ, từ cấp thấp đến cấp tướng, có liên quan đến vụ Mỹ Lai. Rất nhiều phiên tòa xét xử lính Mỹ thảm sát thường dân Mỹ Lai đã được tiến hành. Chỉ có duy nhất một phiên tòa phán quyết có tội. Ngày 29 tháng 3 năm 1971, tòa đã tuyên bố Trung úy Cally phạm tội giết hai mươi hai thường dân Mỹ Lai, và kết án chung thân lao động khổ sai đối với Calley. Ngay sau tuyên bố này, lính Mỹ đã đứng về phía Calley. Họ sáng tác và hát bài hát ca ngợi Calley. Họ khắc lên súng “Trả thù cho Calley”. Báo chí đặt tít “Hãy trả tự do cho Calley”, hay “Hãy xuống đường vì Calley”. Hơn 5.000 bức điện gửi tới Nhà Trắng với tỷ lệ 100/1 ủng hộ Calley. Chỉ 3 ngày sau khi bị kết án, Tổng thống Nixon, Tổng tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ đã can thiệp cho phép Calley không bị giam trong tù, chỉ bị giam tại gia. Cuối cùng thì Calley cũng chỉ bị quản thúc tại gia hơn 3 năm. Tháng 5 năm 1976, Calley cưới Penny Vick, con gái chủ tiệm kim hoàn ở Columbus và có hai con.

Bốn giờ ở Mỹ Lai - Four Hours in My Lai3 do hai phóng viên Michael Bilton và Kevin Sim viết, được Penguin Books xuất bản năm 1992. Cuốn sách đã mô tả đầy đủ các sự kiện xảy ra một cách trung thực, từ bối cảnh chiến tranh trước đó, chi tiết từng hành động trong ngày thảm sát, sau ngày thảm sát, đến cuộc điều tra, những phát hiện, rồi đến các phiên tòa xử lính Mỹ. Vào ngày 16 tháng 3 năm 1968, chỉ trong vòng bốn giờ đồng hồ, hai Đại đội Charlie và Bravo trực thuộc Lữ đoàn 11 Bộ binh Hoa Kỳ đã giết chết gần 500 dân thường bao gồm cả phụ nữ, người già và trẻ em tại làng Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi, miền Nam Việt Nam. Cuốn sách cho độc giả hiểu rõ chi tiết vụ thảm sát Mỹ Lai. Chỉ khi hiểu rõ đến tận cùng chân tướng của sự việc chúng ta mới hy vọng không còn một vụ Mỹ Lai nào có thể xảy ra trong tương lai.

Nguồn:

[1], Ảnh: Sơ đồ trận Mỹ Lai, Four Hours in My Lai.

[2], Ảnh: Thảm sát tại Mỹ Lai, Ronald Haeberle, Wikipedia.

[3]: Four Hours in My Lai, Michael Bilton and Kevin Sim, Penguin Books, 1992.